Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

KDQT - Tình huống 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Starbucks (CC)


Tình huống 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Starbucks


Ba mươi năm về trước, Starbucks chỉ là một cửa hàng ở khu Pike Place Market thuộc Seatle chuyên  bán các loại hạt cà phê rang cao cấp. Ngày nay nó là một công ty chế biến cà phê và bán lẻ toàn cầu với hơn 13.000 cửa hàng, trong đó hơn 3.750 cửa hàng được đặt trên 38 quốc gia khác nhau trên thế giới. 
Tập đoàn Starbucks bắt đầu định hình con đường phát triển của nó từ những năm 1980 khi giám đốc Marketing của công ty, Howard Schultz, trở về từ chuyến đi Ý và bị ấn tượng bởi các quán cà phê tại Ý. Schultz, người sau này đã trở thành CEO của Starbucks, đã thuyết phục các ông chủ của công ty thử nghiệm mô hình “quán cà phê”(coffeehouse) – kinh nghiệm Starbucks được ra đời từ đây.
 Chiến lược đầu tiên của Starbucks lúc đó là bán các loại cà phê rang cao cấp của công ty, cùng với cà phê được pha theo phong cách Espresso uống liền, đi kèm một số loại bánh nướng, một số dụng cụ pha chế cà phê, trà, và một số sản phẩm khác trong một không gian được thiết kế một cách trang nhã(tastefully). Công ty cũng nhấn mạnh một phong cách phục vụ khách hàng cao cấp. Với những lý giải cho rằng những nhân viên khi được động viên sẽ cung cấp những dịch vụ khách hàng tốt nhất, các nhà quản lý ở Starbucks đã bỏ ra rất nhiều công sức để thuê mướn nhân viên, huấn luyện cho họ, và đưa ra những chính sách về thu nhập rất hấp dẫn. Đó là những chính sách cấp cho nhân viên bán thời gian cổ phiếu của công ty và các phúc lợi về y tế. Những chính sách này rất thành công ở Hoa Kỳ, nó đã đưa Starbuck từ một công ty không có tên tuổi trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất ở Mỹ trong vòng một thập niên.
Năm 1995, với khoảng 700 cửa hàng trên toàn nước Mỹ, Starbucks bắt đầu khám phá những cơ hội từ thị trường nước ngoài. Thị trường mục tiêu đầu tiên là Nhật. Mặc dù Starbucks không thích hình thức kinh doanh nhượng quyền(franchising) ở thị trường Bắc Mỹ(các cửa hàng bị sở hữu bởi các ông chủ khác), nhưng ban đầu Starbucks quyết định cấp phép kinh doanh(licensing)cho các công ty của Nhật. Tuy nhiên nó nhận ra rằng một thỏa thuận cấp phép kinh doanh không đủ sức để buộc những người mua quyền kinh doanh sản phẩm Starbucks ở Nhật thực hiện đúng hình thức kinh doanh đã rất thành công của Starbucks. Vì vậy, Starbucks quyết định thành lập liên doanh với một công ty bán lẻ nội địa ở Nhật, Sazaby Inc. Mỗi bên giữ 50% cổ phần. Starbucks đã đầu tư 10 triệu USD vào trong liên doanh này, và đây là hoạt động FDI đầu tiên của Starbucks. Sau đó, Starbucks cấp phép kinh doanh cho liên doanh này, với điều kiện quan trọng, đó là Starbucks chịu trách nhiệm phát triển thương hiệu Starbucks trên thị trường của Nhật.
Để đảm bảo các hoạt động của nó ở Nhật rập khuôn theo kinh nghiệm kinh doanh của Starbucks (“Starbucks experience”) ở thị trường Bắc Mỹ, Starbucks đã chuyển một số nhân viên (ở Mỹ) sang Nhật. Thỏa thuận cấp phép kinh doanh yêu cầu những nhà quản lý và nhân viên ở các cửa hàng của Nhật phải tham gia các lớp huấn luyện tương tự như ở Mỹ. Thỏa thuận cấp phép còn yêu cầu các cửa hàng ở Nhật phải thiết kế giống như các cửa hàng ở Mỹ. Năm 2001, công ty đã giới thiệu chương trình cấp cổ phiếu của công ty cho các nhân viên người Nhật, đây cũng là công ty đầu tiên ở Nhật thực hiện điều này. Có nhiều người hoài nghi về sự thành công của Starbucks ở thị trường nước ngoài nhưng vào khoảng đầu năm 2006 Starbucks có hơn 600 cửa hàng ở Nhật và đã lên kế hoạch mở thêm cửa hàng với tốc độ rất nhanh.
Sau thị trường của Nhật, Starbucks bắt tay vào xây dựng chương trình đầu tư ra thị trường nước ngoài tích cực hơn. Năm 1998, công ty đã mua chuỗi 60 cửa hàng bán lẻ của Seattle Coffee, đối thủ đến từ Anh quốc với giá 84 triệu USD. Đây là chuỗi cửa hàng do một cặp vợ chồng người Mỹ quê ở Seattle đã  xây dựng Seattle Coffee theo mô hình của Starbucks ở Anh.
Vào cuối những năm 1990, Starbucks mở một số cửa hàng ở Đài Loan, Trung quốc, Singapore, Thái Lan, New Zealand, Hàn Quốc, và Malaysia. Ở Châu Á, chiến lược thông thường mà Starbucks thực hiện đó là cấp phép cho các cửa hàng địa phương, đổi lại nó sẽ nhận lấy phí cấp phép trên doanh thu của các cửa hàng này. Starbucks cũng bán coffee và một số sản phẩm cho cửa hàng để cửa hàng bán lại cho khách hàng địa phương. Cũng như ở Nhật, Starbucks cố gắng thuyết phục các cửa hàng ở các nước Châu Á tổ chức các lớp huấn luyện nhân viên và tuân thủ cách thức thiết kế các cửa hàng giống như của Starbucks. Tuy nhiên nổ lực của Starbucks đã không đạt được hiệu quả như mong muốn. Chẳng bao lâu sau, Starbuck đã chuyển một số cửa hàng này thành các công ty liên doanh, hoặc công ty do Starbucks sở hữu. Ví dụ như ở Thái Lan, ban đầu Starbucks liên doanh với Coffee Partners, một công ty bản địa. Theo điều khoản thỏa thuận Coffee Partners phải mở ít nhất khoảng 20 cửa hàng Starbucks ở Thái Lan trong vòng 5 năm. Tuy nhiên, Coffee Partners thấy rằng rất khó khăn khi tiếp cận các nguồn vốn của các ngân hàng Thái Lan để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tháng 7 năm 2000, Starbucks mua lại Coffee Partners với giá 12 triệu USD. Mục đích của nó là thúc đẩy mạnh hơn hoạt động mở rộng ở Thái Lan.
Vào năm 2002, Starbucks lên kế hoạch mở rộng thị trường sang Châu Âu. Đầu tiên, Starbucks chọn Thụy sĩ. Rút kinh nghiệm từ Châu Á, công ty đã liên doanh với một công ty Thụy sĩ, Bon Appetit Group, đây là công ty dịch vụ thực phẩm lớn nhất ở Thụy sĩ. Bon Appetit giữ phần lớn cổ phần của công ty liên doanh, và Starbucks cho công ty liên doanh này thuê giấy phép với những điều khoản thỏa thuận tương tự với những thỏa thuận mà nó làm rất thành công ở thị trường Châu Á. Sau đó Starbucks liên doanh với các công ty ở các quốc gia khác. Đầu năm 2006, Starbucks tuyên bố rằng Starbucks có tiềm năng mở đến 15.000 cửa hàng bên ngoài nước Mỹ, với những cơ hội đến từ Trung quốc, Starbuck tin rằng đây là thị trường nước ngoài lớn nhất bên cạnh thị trường Mỹ. Hiện tại, Starbuck đã có 350 quán cà phê ở Trung quốc.
Tóm tắt tình huống và trả lời các câu hỏi:





     1.      Các Anh/ chị hãy giải thích tại sao công ty Starbucks bắt đầu quá trình đầu tư nước ngoài bằng hình thức cấp phép kinh doanh, nhưng sau đó nó lại thất vọng với  hình thức đầu tư này?
      2.      Tại sao Starbucks quyết định lựa chọn hình thức liên doanh với các công ty địa phương và sau đó là hợp đồng cấp phép kinh doanh với công ty liên doanh này là hình thức đầu tư chủ yếu?
     3.      Các Anh/chị hãy cho biết những ưu điểm của hình thức liên doanh mà Starbucks lựa chọn so với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài. Tại sao Starbucks lại đầu tư trực tiếp 100% vốn nước ngoài ở Anh và Thái Lan?
4.    Lý thuyết FDI nào giải thích cho chiến lược đầu tư mở rộng kinh doanh ở thị trường nước ngoài của Starbucks?

Biên dịch từ: Hill, 2011 - tài liệu đã dẫn
Người dịch: Việt QC
Xem thêm: http://www.starbucks.com/  

1 nhận xét: