Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

KDQT - Tình huống 7: Hyundai và Kia đối mặt với đồng Won mạnh(OC)


Tình huống 7: Hyundai và Kia đối mặt với đồng Won mạnh


Trong nhiều năm Huyndai và chi nhánh của nó Kia, những nhà sản xuất xe hơi tăng trưởng nhanh của Hàn quốc, đã hưởng lợi từ chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Huyndai bán 60% và Kia bán 80% sản phẩm của nó ở thị trường nước ngoài, đặc biệt là Hoa kỳ, nơi mà Huyndai&Kia đã gia tăng thị phần thời gian gần đây. Hai công ty hiện nay đang có 4.3% thị trường Hoa kỳ, và họ lên kế hoạch gia tăng gấp đôi thị phần của mình lên 8.6% vào năm 2010. Thành công của 2 công ty ở thị trường nước ngoài được đóng góp bởi chất lượng sản phẩm tốt, thiết kế phù hợp, giá cả cạnh tranh. Ở thị trường Hoa kỳ và EU, Huyndai&Kia định giá xe hơi thấp hơn giá của các đối thủ ở thị trường nội địa và giá của các công ty Nhật như Toyota và Honda. Chiến lược giá thấp này giúp 2 công ty gia tăng doanh số bán hàng ở nước ngoài nhưng lợi nhuận trên mỗi chiếc xe thì thấp – chỉ nằm khoảng 3%/chiếc xe được bán ở Hoa kỳ. Điều này làm cho cả hai rất dễ bị tổn thương với những thay đổi của đồng tiền Hàn quốc, đồng won, so với đồng đô-la Mỹ.

KDQT - Tình huống 6: Xây dựng nền kinh tế thị trường ở Ấn Độ(CC)


Tình huống 6: Xây dựng nền kinh tế thị trường ở Ấn Độ


Sau khi giành độc lập từ Anh năm 1947, Ấn Độ thừa hưởng 1 chính phủ với hệ thống chính trị theo quan điểm dân chủ. Hệ thống kinh tế của Ấn từ năm 1947 là 1 hệ thống kinh tế hỗn hợp với các đặc điểm như phần lớn các công ty thuộc nhà nước, kế hoạch hóa tập trung và được trợ cấp tài chính từ chính phủ. Hệ thống kinh tế này đã kìm hãm sự phát triển của các công ty khu vực tư nhân. Các công ty tư chỉ có thể hoạt động và phát triển hoạt động kinh doanh dưới sự quản lý của chính phủ. Phải mất một vài năm một doanh nghiệp tư mới nhận được được giấy phép sản xuất 1 sản phẩm mới. Nhiều ngành công nghiệp nặng như ô tô, hóa chất, thép được sở hữu bởi các doanh nghiệp nhà nước(DNNN). Hạn ngạch sản xuất cùng với thuế nhập khẩu cao cũng góp phần vào sự phát triển còi cọc của DN tư. Luật lao động gây khó dễ cho các doanh nghiệp trong việc thuê lao động.

KDQT - Tình huống 5: Mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài của Wal-Mart(CC)


Tình huống 5: Mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài của Wal-Mart


Wal-Mart, nhà bán lẻ lớn nhất thế giới, đã gầy dựng sự thành công của nó dựa trên chiến lược giá thấp mỗi ngày và hệ thống hoạt động hiệu quả, hệ thống logistics, hệ thống thông tin quản lý đi kèm đã giúp công ty luôn giữ lượng hàng hóa lưu kho ở mức tối thiểu mà không bao giờ bị dư thừa  cũng như thiếu hụt hàng hóa. Công ty có khoảng 2,1 triệu lao động, có 4.200 cửa hàng ở Hoa kỳ và 3.600 cửa hàng trên toàn thế giới, doanh số gần 400 tỷ đô(tính theo năm tài khóa 2008). Khoảng 91 tỷ Đô của doanh số này đến từ 15 quốc gia bên ngoài Hoa kỳ.

KDQT - Tình huống 4: Mc Donald ở Ấn(OC)


Tình huống 4: McDonald ở Ấn


Theo nhiều cách khác nhau, Tập đoàn McDonald đã viết nên một cuốn sách về hoạt động kinh doanh toàn cầu. Trung bình mỗi ngày có 4 nhà hàng mới McDonald được khai trương đâu đó trên toàn thế giới. Công ty có khoảng 30.000 nhà hàng ở hơn 120 quốc gia, phục vụ cho hơn 50 triệu khách hàng mỗi ngày. Một trong những quốc gia có mặt trên danh sách của McDonald gần đây nhất là Ấn độ, nơi McDonald đã bắt đầu thành lập chuỗi nhà hàng vào cuối thập niên 1990. Mặc dù Ấn độ là quốc gia nghèo, nhưng tầng lớp trung lưu đông đúc ước tính khoảng 200 triệu đã thu hút McDonald.

KDQT - Tình huống 3: NAFTA và ngành công nghiệp dệt Mỹ(CC)

Tình huống 3: NAFTA và ngành công nghiệp dệt Mỹ

Khi Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) có hiệu lực vào năm 1994, nhiều lo ngại rằng tình trạng mất việc làm trong ngành công nghiệp dệt may Hoa kỳ sẽ xảy ra vì nhiều công ty di chuyển nhà máy sản xuất từ Hoa kỳ sang Mehico. Nhiều sự phản đối NAFTA mạnh mẽ, lập luận rằng hiệp ước không nên được ký kết vì nó mang lại nhiều tác động tiêu cực đối với lao động Hoa kỳ, nhưng không thành công. Nhìn lướt qua dữ liệu sau khi thông qua NAFTA 10 năm đã cho các nhà phê bình một điểm đáng chú ý. Giữa năm 1994 và 2004, sản xuất hàng may mặc giảm 40% và hàng dệt giảm 20% trong khi nhu cầu may mặc của Mỹ tăng 60%. Trong cùng khoảng thời gian, người lao động trong các nhà máy dệt ở Hoa kỳ giảm từ 478.000 lao động xuống còn 239.000 lao động, lao động trong ngành may mặc giảm mạnh từ 858.000 xuống còn 296.000 trong khi đó xuất khẩu hàng dệt may từ Mehico vào Hoa kỳ tăng từ 1.26 tỷ Đô-la lên 3.84 tỷ Đô-la. 



KDQT - Tình huống 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Starbucks (CC)


Tình huống 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Starbucks


Ba mươi năm về trước, Starbucks chỉ là một cửa hàng ở khu Pike Place Market thuộc Seatle chuyên  bán các loại hạt cà phê rang cao cấp. Ngày nay nó là một công ty chế biến cà phê và bán lẻ toàn cầu với hơn 13.000 cửa hàng, trong đó hơn 3.750 cửa hàng được đặt trên 38 quốc gia khác nhau trên thế giới. 

KDQT - Tình huống 1: Toàn cầu hóa ở công ty GE(OC)


Tình huống 1: Toàn cầu hóa ở công ty GE


General Electric, công ty được thành lập bởi Thomas Edison , hiện giờ là tập toàn công nghiệp lớn nhất Châu Mỹ, chuyên sản xuất hàng loạt các hàng hóa và dịch vụ, từ trang thiết bị y tế, máy phát điện, động cơ máy bay, điện tử gia dụng, đến dịch vụ ngân hàng và thậm chí cả truyền hình (GE sở hữu kênh NBC, một trong 3 đài truyền hình lớn nhất ở Mỹ). Công ty khổng lồ này có doanh thu gần 180 tỉ $ Mỹ không phải là điều gì đó lạ lẫm với kinh doanh quốc tế. GE đã sản xuất và bán hàng ở nước ngoài qua chục năm.